VĂN HÓA XÃ HỘI

TRUNG QUỐC QUÁ CHẬM TRONG VIỆC BÃI BỎ CHÍNH SÁCH MỘT CON

  

Tân Hoa Xã hôm thứ năm 29.10.2015 loan tin Trung Quốc quyết định chấm dứt chính sách mỗi gia  đình chỉ có một con, và cho phép mỗi cặp vợ chồng được có hai con, và chỉ hai mà thôi, không hơn. Bản thông cáo do đảng CS đưa ra nói rằng: “Để cân bằng sự gia tăng dân số, Trung Quốc căn bản sẽ tiếp tục giữ chính sách kế hoạch hóa gia đình và cải tiến gia tăng dân số” và “Thực hiện chủ trương ấy, Trung Quốc áp dụng chính sách ‘mỗi cặp vợ chồng hai con” như là sự chủ động đối phó vấn đề dân chúng già đi”.

Quyết định được đưa ra sau bốn ngày họp của các giới chức cao cấp về chiến lược trong đảng ở một khách sạn Bắc Kinh, như phóng viên CNN David McKenzie cho biết. Chưa biết bao giờ chính sách mới sẽ được thi hành. Theo Tân Hoa Xã cần được sự chấp thuận của Quốc Hội. Tuy nhiên ngay khi tin tức này được loan báo, cổ phiếu của các công ty sản xuất thực phẩm trẻ em như Mead Johnson, Nestle và Danone đã lên, do dự đoán của giới đầu tư về sức tiêu thụ ở Trung Quốc sẽ gia tăng mạnh.

Chính sách một con là chính sách kiểm soát dân số, một chính sách quốc gia cơ bản của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, được áp dụng từ năm 1979. Tên chính thức do chính phủ Trung Quốc đặt là “Chính sách kế hoạch hóa gia đình”.

Qua hai giai đoạn dân số Trung Quốc biến động bất thường – tử suất tăng cao và sinh suất giảm mạnh – do thất bại của kế hoạch Bước Tiến Nhảy Vọt 1958-1960 thời Mao Trạch Đông đưa tới nạn đói trầm trọng, và Cách Mạng Văn Hóa làm xáo trộn trật tự sinh hoạt xã hội, tình trạng dân số Trung Quốc bình ổn trở lại. Sau đó tốc độ gia tăng nhanh chóng của dân số Trung Quốc tạo nên nhiều áp lực về kinh tế xã hội.

Đầu những năm 1970, Trung Quốc ban hành chính sách hai con, khuyến khích sinh con thứ hai sau khoảng 4 năm và kêu gọi cưới xin muộn hơn. Nhưng tới thời Đặng Tiểu Bình, nhận thấy dân số phát triển quá mau vượt khỏi tầm kiểm soát, nên năm 1978, Đặng đã đề ra mục tiêu: Trước năm 2000, dân số Trung Quốc không được vượt quá 1,2 tỷ người. Năm 1979, chính sách một con bắt đầu áp dụng và tới 1982 chính sách này được đưa vào Hiến Pháp.

Mục tiêu ban đầu của chính sách một con là kinh tế: làm giảm nhu cầu tài nguyên thiên nhiên, duy trì tỷ lệ lao động ổn định, giảm tỷ lệ thất nghiệp và giảm lao động thặng dư. Mặc dù thi hành chặt chẽ chính sách một con, dân số Trung Quốc vẫn tăng nhanh. Nếu năm 1965 là 700 triệu thì năm 1982 dân số Trung Quốc đã vượt 1 tỷ, lên tới 1,008 triệu; năm 2000 – 1.285 tỷ; 2010 – 1.339 tỷ.

Theo các thống kê, số dân vẫn tăng tuy sinh suất có suy giảm mạnh. Dân tộc thiểu số tăng nhanh hơn so với người Hán: từ năm 1953 chiếm 6.06% dân số, đến năm 1982: 6.7% và 2010: 8,.9%. So sánh kết quả cuộc điều tra dân số toàn quốc lần thứ nhất với lần thứ năm, người Hán tăng 5.74%; trong khi dân tộc thiểu số tăng 6.92% ( hơn 1.2 lần ).

Những quy định ngặt nghèo và việc thi hành khắt khe chế độ một con được cho là nguyên nhân dẫn đến nhiều bi kịch xã hội tại Trung Quốc. Vì vậy kể từ khi ra đời, chính sách này đã có nhiều thay đổi, trong đó có sự mở rộng dần giới hạn số con được phép sinh ra với một số đối tượng. Chính sách này giới hạn cho mỗi một cặp vợ chồng ở thành thị chỉ được sinh một con. Những trường hợp ngoại lệ áp dụng đối với các cặp vợ chồng ở nông thôn: nếu con đầu lòng là gái thì được phép có thêm con thứ hai; dân tộc thiểu số được phép có từ 3 đến 4 con. Chính sách một con cũng không áp dụng với đặc khu hành chính Hong Kong và Macao, nơi được thiết lập chính sách kế hoạch gia đình riêng.

Từ 2002, các cặp vợ chồng muốn có nhiều con phải chịu đóng một khoản tiền phạt cố định. Nhưng đến cuối năm ấy áp dụng Luật Dân Số và Kế Hoạch Hoá Gia Đình, công dân vi phạm còn phải trả thêm một khoản gọi là “phí bảo trì xã hội” chứ không phải là tiền phạt. Khoản phí này do các tỉnh, khu tự trị và thành phố quy định, căn cứ trên thu nhập bình quân đầu người của cư dân, thành phố cũng như nông thôn. Chi phí này được giải thích là để “trang trải những thiệt hại cho xã hội gây ra bởi đứa con thứ hai” của các gia đình vi phạm chính sách. Riêng năm 2010, tổng tiền phạt thu về khoảng 20 tỉ nhân dân tệ ( khoảng $3.2 tỷ ).

Nếu gia đình không đóng khoản phí này, những đứa con ngoài chính sách không được đăng ký khai sinh, không có tên trong hộ khẩu, không được cấp chứng minh thư, không được tham gia vào hệ thống bảo hiểm cũng như không được hưởng hệ thống giáo dục, y tế của nhà nước. Trong trường hợp người mẹ bị phát hiện đang mang thai ngoài chính sách và không có khả năng đóng tiền phạt sẽ bị cưỡng ép phá thai. Một số trường hợp phá thai cưỡng bức dẫn đến thai phụ bị thiệt mạng. Ngoài ra, một số biện pháp khác cũng được thi hành như đặt vòng tránh thai cho phụ nữ có một con, triệt sản cho phụ nữ có hai con.

Cuối năm 2013, sau 35 năm thực thi nghiêm khắc chính sách một con, Ủy Ban Lập Pháp Tối Cao Trung Quốc đưa ra báo cáo tuyên bố nới lỏng, cho phép các cặp vợ chồng được sinh con thứ hai nếu cha hoặc mẹ là con một, chính sách dân số mới được thực hiện từ đầu năm 2014. Biện pháp cởi mở được hoan nghênh, nhưng ít được hưởng ứng và không đưa đến hậu quả đáng kể.

Giới y tế ước lượng trên toàn quốc có khoảng 11 triệu cặp vợ chồng hợp với điều kiện nói trên và sẽ có thêm khoảng 2 triệu trẻ sơ sinh mới. Nhưng thực tế chỉ có 1 triệu cặp đăng ký xin đươc có đứa con thứ hai. Mặt khác, như mọi người đều hiểu, có sự mất cân bằng về giới tính do dân Trung Quốc quý con trai hơn con gái, và nhiều trường hợp nếu biết thai nhi là gái sẽ bị phá bỏ. Tỉ lệ nam/nữ sinh ra trong năm 2005 bằng 118.9%: nghĩa là số bé trai nhiều hơn 20% so với bé gái. Sự mất cân bằng nghiêm trọng ấy có thể gây ra các vấn đề xã hội nghiêm trọng trong hai hoặc ba thập kỷ tiếp theo.

Nhưng lý do quan trọng nhất khiến phải hủy bỏ chính sách gia đình một con là tình trạng già nua của dân Trung Quốc. Trong vòng 15 năm nữa dân Trung Quốc sẽ đứng đầu thế giới về sự già nua với 400 triệu người trên 60 tuổi. Số dân này là một gánh nặng cho nhà nước về chi phí y tế và trợ cấp xã hội. Họ cũng phải lệ thuộc vào sự chăm sóc hỗ trợ của con cháu và do đó làm giảm năng lực hoạt động trong lãnh vực kinh tế và phục vụ lợi ích xã hội.

Wang Feng, giáo sư đại học Fudan và là một chuyên gia nhân khẩu học hàng đầu, nói: “Lịch sử sẽ nhìn lại để nhận thức rằng chính sách một con là một trong những sai lầm nặng nề nhất mà Trung Quốc đã áp dụng và hậu quả tai hại sẽ còn tồn tại trong nhiều thập niên nữa”. Mặc dù từ lâu đã có nhiều lời kêu gọi bãi bỏ chính sách này, Đảng và chính quyền Trung Quốc đã chỉ phản ứng chậm chạp bằng một số giải pháp cục bộ và cho đến nay mới có quyết định dứt khoát.

Tuy vậy bản thông cáo của Đảng CS vừa đưa ra về việc hủy bỏ chính sách một con vẫn khẳng định “gắn bó với căn bản kế hoạch hóa gia đình”. Giáo sư Wang cho rằng đó chỉ là một lối vuốt mặt, theo ông trong lịch sử các nhà cầm quyền ở Trung Quốc không bao giờ nhìn nhận “chúng tôi đã phạm sai lầm”.

Peng Xizhe, một giáo sư khác ở đại học Fudan cho rằng chính sách mới sẽ không đưa tới chuyền biến lớn, không có bùng nổ về số trẻ con ra đời. Ông giải thích: “Nhiều cặp vợ chồng sẽ không muốn có đứa con thứ hai vì áp lực kinh tế và sự thiếu trợ cấp xã hội”. Theo ông, nếu muốn dân số tăng nhanh và trẻ trung hóa, chính quyền Trung Quốc phải có đường lối và thực hiện những phương cách khuyến khích sinh sản.

Hơn 30 năm áp dụng chính sách một con còn đưa đến nhiều hậu quả nặng nề và không dễ dàng vượt qua khỏi trong nhiều thập kỷ tới, như làm giảm lượng dân số trong độ tuổi lao động, ảnh hưởng tới tốc độ phát triển kinh tế; cản trở mục tiêu thu hẹp khoảng cách giữa thành thị và nông thôn. Như thế sự thay đổi chính sách lúc này có thể là việc chữa trị quá muộn. Sau 30 năm phát triển vượt bực về kinh tế và đưa Trung Quốc tới vị trí cường quốc thế giới. Bây giờ đến lúc Trung Quốc đang phải đối mặt trước thực tế đơn giản là không một tiến bộ nào có thể mãi mãi duy trì, với những khó khăn trở lực sẽ nảy sinh trong ngắn hạn và dài hạn.

HÀ TƯỜNG CÁT, báo Người Việt ( tổng hợp )

Nếu Quý Vị thấy hữu ích, hãy chia sẻ bài viết này !

Gửi phản hồi

Người đăng tin

Lm. Giuse Lê Quang Uy, DCCT

Linh mục Dòng Chúa Cứu Thế