CÔNG CHA NGHĨA MẸ

XIN KỂ CHUYỆN BA TÔI…

 

Phần 1. Những thay đổi sâu xa

Ba tôi có cách dạy con nghiêm khắc, rất dữ đòn, nhưng sau năm người con đầu, đến hai chị em út ít chúng tôi thì ông thay đổi hẳn. Lúc ấy ông khoảng 40 tuổi. Mẹ bảo: “Bố các cô các cậu bây giờ là… bụt đấy !”

Dù vậy, mỗi khi tôi hư cũng vẫn phải đòn. Ông quát: “Đi ra lấy cái phất trần rồi lên giường nằm úp mặt xuống…” Dứt lời ông bỏ ra nhà ngoài làm một điếu thuốc lào. Thế là trong này, mẹ tôi chạy vội đi lấy cái khăn mặt cũ, đã dùng làm giẻ lau, đang phơi trên dây thép ngoài sân, đem vào lót dưới lớp quần đùi của thằng bé.

Thả xong những hơi khói thuốc lào, ba tôi quay vào nhìn “tội nhân” đang nằm xấp, hắng giọng hỏi: “Tội như thế thì mấy roi ?” Tôi lí nhí: “Dạ, thưa ba, mười roi !” Ông hừ một tiếng: “Hơi nhiều đấy, hạ xuống đi !” – “Dạ, thưa ba, một roi ạ !” Lần này ông quát: “Tội thế mà có một roi thôi à ?” Tôi vội vàng mặc cả: “Dạ, ba roi ạ !” Cuộc đối thoại tiếp tục: “Được ! Thế đánh mạnh hay đánh nhẹ ?” Hiểu ý ông, tôi lúng búng trả lời: “Dạ, mạnh !” – “Mạnh thì đau, đau có khóc không ?” – “Dạ, đau không khóc ạ !” – “Tại sao đau mà không khóc ?” – “Dạ thưa ba, đúng tội nên không khóc ạ !”

Tôi vừa dứt lời, rất nhanh, ông dơ cao cái phất trần lên, quất mạnh xuống mông thằng bé liên tiếp 3 roi đâu ra đấy, bật lên ba tiếng bộp, bộp, bộp. Tôi chẳng thấy đau gì, nhưng cũng giả vờ oằn người lên, mếu máo nhổm dậy kêu “A, A, A !” ra cái điều…

Dạo ấy tôi cứ ngỡ hai mẹ con “phối hợp tác chiến” độc chiêu lót đít lừa được ba tôi vì chả thấy ông bảo gì, đánh đòn xong chỉ vứt cái phất trần xuống rồi bỏ ra ngoài phòng khách ngồi xem sách. Mẹ bảo: “Ra xin lỗi bố đi…” Sau này lớn rồi, nghĩ lại, tôi mới hiểu làm sao mà “lấy vải thưa che mắt thánh” ? Có điều ông thay tính đổi nết, cũng đổi cách giáo dục con cái, cốt đánh đòn là để nhớ, sau khi đã hiểu lỗi thì chừa chứ không phải do sợ đòn mà không dám tái phạm !

Có lần, mẹ tôi ngồi bàn máy may, bảo tôi phụ đánh mấy cái suốt chỉ, bà mới nhẩn nha phân tích cho tôi hiểu nguồn cơn mọi sự về ba tôi như thế này: “Ấy bố cậu từ ngày gia đình mình di cư vào Nam năm 54, sinh cô Hiền chị cậu, rồi năm năm sau sinh thêm cậu nữa là út ít trong nhà, tự nhiên bố cậu đổi tính, dịu hẳn đi, nóng tính chỉ bằng nửa ngày xưa, lại không còn dữ đòn nữa. Có lẽ cũng nhờ bố cậu không còn phải căng thẳng chuyện với họ nội họ ngoại, và nhất là chuyện thoát được cái họa CS ở miền Bắc…”

À, thì ra gia đình và xã hội ảnh hưởng rất lớn lên tâm sinh lý con người ta sâu xa và ghê gớm lắm. Hiểu như thế rồi tôi càng thương ba tôi nhiều hơn.

Sau biến cố 75, ba tôi như rơi vào một cơn bi quan yếm thế trước thời cuộc. Cơ quan Quân Quản Sàigòn lúc ấy không ghép tội ba tôi là ngụy quyền, chỉ bắt cải tạo tại chỗ, ngồi dưới sân nắng ba ngày, rồi sau đó cố gắng thuyết phục ba tôi ra làm việc tiếp. Hình như lúc ấy họ cần ông để có thể vận hành được nhà máy sữa Foremost sau này đổi tên là sữa Thống Nhất ở Thủ Đức. Ba tôi từ chối thẳng: “Chúng tôi đã trốn CS các ông mà chạy vào Nam, được 21 năm tự do, bây giờ các ông lại vào đến đây thì chúng tôi đành chịu vậy chứ làm sao mà lại có thể cộng tác với các ông ?!?”

Ba tôi dạo ấy chỉ đi Lễ bên Nhà Thờ Phanxicô Đakao rồi về nhà, loay hoay với chuyện ra xếp hàng chờ mua dầu hôi, mua củi, mua khoai lang và các thứ nhu yếu phẩm lỉnh kỉnh ở cửa hàng hợp tác xã. Sau hai đợt đổi tiền thì ông suy sụp hẳn, lo đến thắt ruột cho tương lai cả gia đình có thể phải đi Kinh Tế Mới.

Nhà tôi bán dần đồ đạc và xe gắn máy, chỉ để lại mấy chiếc xe đạp, để lấy tiền thăm nuôi ông anh trong trại cải tạo, rồi dọn phòng khách đào lỗ căng khung dệt chiếu. Ba tôi lui cui lo việc phơi nắng trước hiên nhà mớ cói lác còn ẩm mốc. Còn tôi ngồi xệp một bên đưa cói cho mẹ lom khom trên khung dệt mà giập go. Của đáng tội, nhà tôi làm kỹ quá, giập go mạnh quá, đan chặt quá nên cái chiếu nặng chình chịch, lại tốn nhiều lác, đã lỗ công tốn của còn bị hợp tác xã trả về. Thế là cũng chỉ được mấy tháng rồi dẹp luôn, chuyển qua đan các loại rổ bằng lá buông. Chuyện hoàn toàn của đàn bà nên hai cha con tôi thành ra… thất nghiệp !

Và đây là lúc Chúa ra tay cứu vớt những năm cuối đời ba tôi một cách kỳ diệu không ngờ !

Phần 2. Không chịu bị khuất phục 

Năm ấy, khoảng cuối 1977, hết cha Jean Marie Trần Văn Phán, rồi lại đến cha Guy Marie Nguyễn Hồng Giáo bên Dòng Phanxicô, sang nhà đề nghị với ba tôi: “Nghe nói ông Lộc giỏi tiếng Pháp, ông dịch giúp mấy cuốn sách Đạo nhé !” Cuốn đầu tiên là một bộ bài giảng của cha Bernard Bro, Dòng Đa Minh, mang tựa đề “Contre toute espérance”.

Thoạt đầu ba tôi giữ nguyên tựa đề theo ý của cha Phán là “Tuyệt vọng mà vẫn một niềm cậy trông”, nhưng sau ba bảo phải dịch mạnh hơn, sắc hơn nữa cho đúng ý tác giả, ba chọn là “Niềm cậy trông bất chấp tuyệt vọng”, rồi cuối cùng lại đổi cho gọn hơn: “Niềm cậy trông bất khuất”.

Vậy là ba tôi như được hồi sinh. Từ một con người tuyệt vọng, cứ ngỡ phải chịu khuất phục bởi định mệnh nghiệt ngã của thời cuộc, nay tìm lại được ý nghĩa cuộc sống: ông không còn làm gì được để giúp đời, giúp gia đình như trước nữa, thì nay, Chúa cho ông cơ hội được chuyển sang phục vụ Hội Thánh bằng chính năng lực phong phú của ông.

Cuốn sách dịch đầu tay ấy không ngờ cái tựa đề và nội dung của nó lại như vận vào xác vào hồn của ba tôi để ông sống với niềm cậy trông bất chấp tuyệt vọng !

Cứ thế, miệt mài trong suốt mười năm, đến cuối năm 1988, chỉ mấy tháng trước khi qua đời vì bạo bệnh, ông khoe với tôi, hồn nhiên đơn sơ như một em bé cuối tháng ở trường về khoe học bạ loại giỏi với cha mẹ: “Uy ơi, ba không ngờ, lụi cụi mười năm mà tạ ơn Chúa, ba đã dịch được 17 cuốn sách cho Dòng Phanxicô, Dòng Kín và Dòng Chúa Cứu Thế…”

Người ta thường bảo con trai theo mẹ, con gái xán bố. Nhà tôi cũng nghiệm đúng nét tâm lý ấy. Tuy nhiên nếu từ bé lúc nào tôi cũng quấn quít gần mẹ, bú tí mẹ đến hai tuổi rưỡi, ăn cơm cũng do mẹ mớm, ngủ chung với mẹ mãi đến mười tuổi, thì đến khi trưởng thành, không ngờ tôi lại được mười năm liền gắn bó gần gũi bên cạnh ba tôi.

Ngay cuốn sách dịch đầu tiên, tôi lúc ấy mới 19 tuổi, đã được ba tôi tin cậy cho được làm “trợ lý” về ngôn ngữ tiếng Việt, hễ dịch được xong một đoạn dài hay một chương, tôi vừa đi đâu về, thế nào cũng được gọi đến, ngồi vào bàn, nghe ba tôi đọc đoạn văn Việt, phân tích chi tiết, đối chiếu bên nguyên bản tiếng Pháp, rồi diễn giải lại cho tôi hiểu ý nghĩa sâu xa bên dưới các từ ngữ. Cuối cùng ông cho tôi được phép biên tập lại câu văn tiếng Việt. Ông nịnh thằng bé: “Ba chỉ giỏi tiếng Pháp, dịch xong rồi đọc nghe nó vẫn thế nào ấy, con giỏi tiếng Việt, con sửa lại giúp ba cho nó ra kiểu nói người Việt mình…” Trời ơi, thằng bé được dịp phổng mũi lên, vận dụng hết khả năng giỏi văn của mình để cùng dịch với bố.

Cũng có khi câu tiếng Việt nghe rất xuôi nhưng ba tôi vẫn ngần ngừ đắn đo, ông bảo: “Dịch ra như con nghe hay rồi đấy, nhưng chữ ấy nếu dịch ngược sang tiếng Pháp thì nó lại ra chữ khác, ý khác, không còn đúng nguyên tác… Hay ba đề nghị thế này…” Vậy là chẳng biết từ lúc nào tôi đã được cất nhắc để làm việc với ba tôi như hai đối tác bình đẳng, trao đổi thẳng thắn, thậm chí có lúc tranh luận sôi nổi cho ra ngô ra khoai, đến nỗi ba tôi quên mất đang ngồi đối diện với thằng con út sinh viên non choẹt, còn tôi cứ ngỡ người cha nghiêm khắc của mình là một… người bạn ngang hàng !

Tính ba tôi chu đáo cẩn trọng lắm. Nhiều cuốn sách được dịch xong, các cha đã nhờ in roneo chui, phát hành cũng chui trong giới Linh Mục Tu Sĩ, bán chui cả ra cho các Giáo Dân cả năm rồi, một hôm, ba tôi chợt nghĩ ra một chi tiết nào đó, mở sách ra xem, gọi tôi đến mà bảo: “Uy ơi, ba thấy chỗ này không ổn, mạch văn như thế này thì phải hiểu như thế kia, con xem có chữ nào tiếng Việt hay có cách nói nào khác của tiếng Việt để diễn ý đúng không ?” Hai cha con lại vắt óc, lại mổ xẻ tranh cãi, đến khi tìm được một từ đắc dụng, ông sung sướng tỉ mỉ gõ máy đánh chữ, cắt ra dán đè lên chữ đã dịch trước đây. Xong xuôi, đọc to lên một lần nữa toàn đoạn văn, ông vỗ bàn một cái, hỉ hả hút một điếu thuốc lào hạnh phúc !

Đến cuốn sách dịch cuối cùng, ba tôi đã yếu đi nhiều, bệnh tật tuổi già cái này lôi kéo cái kia nhưng vẫn chưa quật ngã được ba tôi. Cuốn sách này không do cha nào, Dòng nào đặt dịch cả, tự ba tôi không biết tìm được ở đâu, đọc thấy hay quá, bắt tay luôn vào việc. Đó là một giáo trình dạy Giáo Lý của Giáo Phận Lyon bên Pháp, tựa đề “Parlez-nous de Jésus”.

Có thể nói đây là tác phẩm dịch… giối già của ba tôi. Thật vậy, ông đã giốc hết sức tàn cuối đời cho cuốn sách tâm huyết. Ông bảo tôi: “Ba dịch quyển này là để dành cho mấy chị em anh em trong nhà, rồi cho cả các cháu nội cháu ngoại nữa. Sau này con có điều kiện thì đem in ra phổ biến cho mọi người học Giáo Lý rất hữu dụng…”

Cũng phải đến gần 20 năm sau ( 2008 ), tôi mới thực hiện được ước nguyện cuối cùng của ba tôi. Cuốn sách được Nhà Xuất Bản Tôn Giáo in, nằm trong bộ sách Nối Lửa Cho Đời, có tựa đề “Xin hãy nói về Chúa Giêsu cho chúng tôi”. Và đây là di sản tinh thần vô giá ba tôi đã để lại cho gia đình. Khi nhận dạy môn Sư Phạm Huấn Giáo cho các Học Viện Liên Dòng, tôi vẫn hãnh diện khoe với các học viên rằng giáo án chính mà tôi sử dụng chính là tác phẩm dịch của ba tôi…

Phần 3. Lòng thanh thản ra đi

Trong vòng có 6 tháng thôi mà ba tôi suy sụp hẳn. Tinh thần của ông đã gượng dậy được suốt trong 10 năm, nhưng công việc phiên dịch liên tục bất kể ngày đêm đã khiến ông rệu rã về thể xác. Có lần, ông đi bộ ra hớt tóc một chỗ gần nhà, bất ngờ quỵ ngã, may mà được một chú bé tốt bụng đỡ kịp, gọi xích lô đưa về tận nhà. Ba tôi phải nằm nhà cả tháng, một bên chân phù to tím bầm.

Bác sĩ Vũ Tam Tỉnh là con trai của cụ Vũ Tam Tư, bạn thân thiết với ba tôi, khám rất kỹ rồi bảo: “Bác ơi, may mà bác làm việc thiên về trí óc nên các mạch máu trên đầu bác tương đối dẻo dai, không bị vỡ làm cho bác bị bại liệt, nhưng bù lại, do bác ngồi một chỗ nhiều quá nên mạch máu chân bị giòn, áp lực dồn xuống nặng quá nên mới bung…”

Thế rồi ba tôi như linh cảm thấy cái ngày Chúa gọi về đã cận kề, nói như Thánh Phaolô: “thời gian đang co rút lại”, ông gắng lên, giốc hết sức chạy đua với định mệnh, mong hoàn tất được các bản dịch các Dòng đã mang tới với bao niềm kỳ vọng…

Nhưng rồi cuối cùng cũng phải đến lúc không còn cầm được chiếc bút mực, nói chi đến chuyện gõ lóc cóc trên bàn phím máy đánh chữ. Ba tôi bị áp huyết rất cao, lại tiểu đường hành hạ, thêm một chứng bệnh chi đó trong dạ dày và ruột, gan, khiến ông cứ ăn chút gì vào lại nôn thốc nôn tháo. Ông gầy xọp đi, chỉ còn nằm một chỗ, thỉnh thoảng gượng ngồi dậy được lại bảo tôi đọc cho nghe một bài suy niệm trong cuốn “Niềm Tin từ cuộc sống” hoặc “Đức Tin sống động” mà ông đã dịch mấy năm trước. Lắm khi vừa đọc xong, tôi bất chợt liếc thấy ông rươm rướm nước mắt mếu máo khóc như một em bé.

Một lần ba tôi trở bệnh nặng, nhà phải đưa ông cấp cứu vào Bệnh Viện Sàigòn. Mẹ tôi, chị áp tôi và tôi cứ thay phiên nhau mỗi ngày vào trực trong nhà thương. Có bà người Bắc trông ông chồng bệnh nằm giường bên cạnh, để ý thấy tôi lau chùi dọn dẹp mỗi khi ba tôi không cầm được tiêu chảy ra máu, bà khen xối xả: “Cái cậu này còn trẻ, lại là con trai mà khéo thế nhỉ ? Đâu ra đấy ! Choe choét ra như vậy mà cậu không thấy buồn nôn à ?” Tôi trả lời: “Thưa cô, sự thường cháu cũng hay ọe lắm, chẳng dám đụng tay đụng chân đâu, nhưng sao chăm sóc cho ba cháu, cháu lại thấy chẳng ghê sợ gì, chẳng phải cố gắng chút nào, cô ạ !” Bà người Bắc buông cho một câu: “Tiếc tôi không có con gái, chứ không tôi gả phắt cho cậu !”

Các bác sĩ làm các xét nghiệm nhưng không tìm ra nguyên nhân chính, quyết định đưa ba tôi sang Bệnh Viện Bình Dân để nội soi. Hôm ấy đúng phiên trực của tôi, tôi ngồi trên xe cứu thương, bên cạnh chiếc băng ca ba tôi nằm thiêm thiếp. Tiếng còi hụ xe rú lên liên hồi nghe mà se thắt lòng, tôi chỉ biết thầm đọc kinh Mai Khôi cầu cho ba tôi được chữa lành mà lòng lại tự nhủ chắc cũng đã đến lúc ba tôi được an nghỉ rồi…

Một bác sĩ của Bệnh Viện Bình Dân làm nội soi cho ba tôi hôm ấy, dáng người chầm chập, khuôn mặt rạng rỡ phúc hậu, giọng nói rổn rảng, khiến tôi tự dưng hình dung ra hình tượng Ông Thiện tôi từng gặp trước cổng các ngôi chùa. Bác sĩ hoàn tất mọi việc rất nhanh gọn sạch sẽ và êm ái, chỉ trong khoảng 10 phút, ông cởi găng tay, vỗ đùa một tiếng bép lên mông của ba tôi rồi nói to: “Ông cụ yên tâm nhé, chẳng có bệnh tật gì ghê gớm mà phải lo…” Bác sĩ còn quay sang tôi bảo: “Cả nhà làm ngay bữa cỗ ăn mừng… Rồi ! Hai cha con có thể xin bên Bệnh Viện Sàigòn cho xuất viện hôm nay luôn !”

Lúc ấy tôi tưởng thật, ba tôi chắc cũng tưởng thật, xuất viện về nhà, cả nhà ai cũng tưởng thật, vì ba tôi khá hẳn lên, uống được chút sữa, ăn được mẩu bánh. Mãi sau này tôi mới hiểu ông bác sĩ tốt bụng ấy nói thế, giấu hẳn kết quả nan y bi đát để chính bệnh nhân và người nhà lên tinh thần khi mọi sự đã hoàn toàn không còn chút hy vọng nào nữa.

Từ giữa năm 1988, cha PX. Nguyễn Hữu Tấn, linh hướng bên Đại Chủng Viện, đã nhắc tôi phải chịu khó hoàn tất nghĩa vụ với Nhà Nước thì mới mong được duyệt vào tu. Tôi đã chọn Thanh Niên Xung Phong và chuẩn bị mọi sự. Bây giờ, tiến thoái lưỡng nan, giấy gọi lên đường đến đúng vào lúc ba tôi bệnh tật yếu nhược. Mẹ tôi vốn trước đây vẫn muốn ép tôi sớm đi tu, nay chỉ im lặng nhường cho ba tôi quyết định.

Cuối tháng 10, một hôm ba tôi nhỏ nhẹ bảo: “Uy à, con cứ lên đường đi TNXP đi, sức ba khá lên rồi, không sao đâu !” Cha Tiến Lộc đến thăm cũng bảo: “Có gì Uy cứ để mình lo cho bác !” Mà thể trạng ba tôi khá lên thấy rõ nên cuối cùng đầu tháng 11, Lễ các Thánh Nam Nữ xong là tôi balô lên xe của Tổng Đội 1 TNXP chạy một chặng đường dài mới vào đến Tổng Đội Bộ nằm giữa lòng chảo Tà Nung, một xã người dân tộc ngoại thành của Đà Lạt. Nhờ lý lịch đại học chính quy, tôi được giao luôn cho làm hiểu trưởng trường Bổ Túc Văn Hóa của Tổng Đội 1.

Thế rồi, giữa tháng 11 năm 1988 thì ba tôi ra đi. Mẹ tôi kể: ba tôi ra đi thanh thản bình an lắm. Vậy mà khi xe của Tổng Đội đưa tôi từ Tà Nung về đến cửa nhà, tôi bước vào giữa những vành khăn trắng, chỉ mới đặt tay nhẹ lên trán thi hài ba tôi, ông liền ứa máu tươi hai bên mép. Chị Anh Nga của tôi lấy bông thấm mãi mà không hết, mẹ tôi mới nói: “Thôi ông ơi, con nó đã về, ông chứng nghiệm như vậy đủ rồi, ông đừng ứa máu nữa, trông thương quá !” Máu cầm lại ngay ! Tôi nhìn kỹ thật lâu khuôn mặt ông, hình như ông mỉm cười…

Vâng, tôi tin là ba tôi đã thanh thản ra đi, cho dù nhà chỉ có hai con trai mà chẳng đứa con trai nào có mặt khi bố sinh thì. Tôi tin một con người như ba tôi, chắc lầm lỗi sai sót không thiếu, nhưng những gì ông đã cố gắng trong suốt cả cuộc đời 73 năm, ông đã dạy vợ con và các cháu phải sống thật lương thiện thì ắt là Thiên Chúa không thể từ khước đón lấy ông.

Không thấy ba tôi để lại di chúc gì, nhưng chỉ cần nhớ lại bao nhiêu câu chuyện tốt lành có thật trong đời ba mẹ được ông kể lại rất sinh động và hóm hỉnh trong các bữa ăn ngày xưa để gián tiếp giáo dục con cái, chỉ nhìn 17 cuốn sách ông đã cần cù dịch liên lỉ trong suốt những năm tuổi già yếu mệt, tôi cũng thấy gia tài ba tôi để lại thật sự đầy ắp và quý giá không gì sánh được, tất cả đã theo tôi, và sẽ còn theo tôi trong cả cuộc đời…

QUANG UY, DCCT, 21.6.2015

Nếu Quý Vị thấy hữu ích, hãy chia sẻ bài viết này !

Có 11 phản hồi

  • Con đọc mà thấy xúc động quá Cha ơi !hình như bắt đầu về già ,ta hay cảm nghiệm và trở về tuổi thơ ,có bóng hình cha mẹ ,anh chị em trông ngôi nhà xưa ấm áp.Con kính chúc Cha có sức khoẻ để giúp nhiều cho nhiều mảnh đời bất hạnh bằng lời nói ,việc làm .Xin Chúa chúc lành cho Cha

  • Kính cha Uy, lâu lắm rồi con mới được đọc những đoạn văn hay thế. Mỗi ngày con đều trông ngóng những bài viết của cha,bây giờ con cũng lớn tuổi nên hay tưởng nhớ về những chuyện thời xưa. Cha đã nói lên những tâm tư và những chuyện thật để cho mọi người cùng suy gẫm. Cảm ơn cha,xin Chúa gìn giữ,chở che và ban mọi ơn lành cho cha để cha phục vụ.

  • Cám ơn cha Uy nhé ! Mừng cho cha đã có được những ngày dài bên bố mình. Con thì không được diễm phúc ấy, vì bố con bị bắn chết ở Quế Son khi con còn ở tiểu học. Nhưng con vẫn nhớ như in chút ít thời gian bên bố con, nhất là mỗi đêm ba mươi tết, khi tất cả các anh chị em, phải ra nằm dài ra đất để đưọc ăn đòn cho tất cả những lầm lỗi suốt năm qua. Mỗi đứa vài roi thôi, nhưng thật là nhớ đời !

  • Bố ơi đọc bài của bố, con nhớ bố con đã ra đi 8 năm rồi, phận làm con,con chưa đáp đền công ơn và chưa làm tròn bổn phận của người con , mắt con cay rồi

  • Bài viết của Cha thật là cảm động, ước gì con có được 1 cuốn sách trong tủ sách quí giá này của Cha? Nếu có dịp ai sang Canada, con sẽ nhờ bạn của con vào gặp Cha để xin Cha 1 trong những cuốn sách đó nhé Cha vì con rất thích đọc sách.

      • Con cám ơn Cha rất nhiều, nếu có dịp có người mang sách qua dùm con, thì con sẽ nhờ người bạn ghé để xin Cha quyển sách và con hứa sẽ đọc hết quyễn sách này. Những bài Cha sưu tầm và bài viết của Cha thật là hay và cũng có nhiều bài thật là xúc động. Cám ơn Cha đã cho con cái link của website của Cha.

Gửi phản hồi

Người đăng tin

Lm. Giuse Lê Quang Uy, DCCT

Linh mục Dòng Chúa Cứu Thế